Ngành quản lý đất đai Việt Nam: 66 năm phát triển và trưởng thành
66_nam_tl_nganh.jpgCách đây 66 năm, thắng lợi Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một trang sử mới của nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam, đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên độc lập dân tộc, dân chủ. Trong những ngày tháng lịch sử hào hùng đó, ngày 3-10-1945.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 41-SL để kết thúc hoạt động của cơ quan quản lý đất đai thuộc Nhà nước thực dân Pháp và mở đầu cho hoạt động quản lý đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trải qua những chặng đường lịch sử, ngành Quản lý đất đai đã từng bước lớn mạnh và trưởng thành, có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như xây dựng và phát triển đất nước.

Ngay thời kỳ đầu thành lập với đội ngũ cán bộ còn ít, thực hiện chủ trương của Đảng "độc lập dân tộc và người cày có ruộng", chúng ta đã ban hành và thực hiện quy định về ruộng đất đối với nông dân. Những quyết sách đúng đắn đã trở thành động lực quan trọng, hết sức to lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tạo thành khối liên minh công nông vững chắc là cơ sở cho quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam.

Sau đó, là thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ xâm lược ở miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước (1954 - 1974). Với mục tiêu đẩy mạnh cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh   (ở miền Bắc), Ngành đã xây dựng trình cơ quan có thẩm quyền ban hành và thực hiện các chính sách đất đai chủ yếu tập trung vào: Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế nông nghiệp; cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân; xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Đồng thời đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản để phục vụ phân vùng sản xuất. Các chính sách công hữu hóa đất đai giai đoạn này đã tạo điều kiện quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh lớn đồng thời tạo điều kiện xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng như thủy lợi, giao thông xây dựng đồng ruộng.

Sau ngày đất nước thống nhất (1975), công tác quản lý đất đai chủ yếu nhằm củng cố nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, tập trung tư liệu sản xuất, thực hiện hợp tác hóa gắn liền với thủy lợi hóa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật... trong đó thay đổi cơ bản là từng bước chuyển từ chế độ tư hữu đất đai sang hình thức sở hữu tập thể và sở hữu Nhà nước về đất đai.

Bước vào thời kỳ Đổi mới, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI và các Đại hội tiếp theo về chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ngành Quản lý đất đai đã xác định nhiệm vụ quản lý và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Ngành.

Sau 25 năm thực hiện đổi mới, tổ chức ngành Quản lý đất đai đã không ngừng lớn mạnh. Hiện tại, toàn ngành có trên 33.000 cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp làm công tác quản lý đất đai từ Trung ương đến địa phương. Các hoạt động của ngành Quản lý đất đai đã đạt được nhiều thành tựu quan trong góp phần đẩy mạnh sự nghiệp phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế từng bước "nắm chắc, quản chặt, khai thác có hiệu quả" nguồn tài nguyên đất đai, cụ thể là:

Đã xây dựng trình ban hành và ban hành theo thẩm quyền hệ thống chính sách về đất đai phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách đất đai không chỉ còn là mệnh lệnh hành chính mà được xem xét dưới góc độ kinh tế đã tạo ra nguồn nội lực to lớn thúc đẩy sản xuất phát triển, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài; thừa nhận giá trị quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản. Những chủ trương chính sách đúng đắn đã góp phần quan trọng giải phóng nguồn lực đất đai đưa đất đai trở thành nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế; đảm bảo được an ninh lương thực; góp phần xóa đói giảm nghèo.

Các hoạt động điều tra cơ bản như điều tra thổ nhưỡng, đánh giá đất; đo đạc bản đồ, thống kê, kiểm kê đất đai được tăng cường để "nắm chắc" chất lượng đất, diện tích các loại đất làm cơ sở cho việc phân vùng kinh tế, phân bổ lực lượng lao động, dân cư và phát triển đô thị góp phần vào việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cung cấp dữ liệu "đầu vào" cho các ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội.

Công tác lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng hệ thống thông tin đất đai được chú trọng. Hệ thống bản đồ địa chính đã được lập bằng công nghệ số với nhiều phương tiện hiện đại, tốc độ thực hiện nhanh, có độ chính xác cao và chi tiết đến từng thửa đất, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, phục vụ cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Đã cấp được hơn 30 triệu Giấy Chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân và tổ chức với diện tích hơn 17 triệu ha. Công tác lưu trữ, thông tin đất đai đang từng bước được hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu tra cứu, sử dụng cho các mục tiêu khác nhau.

Công tác lập và quản lý quy hoạch được triển khai thực hiện ở cả 4 cấp từ quốc gia đến cấp tỉnh, huyện, xã góp phần quan trọng trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và từng địa phương giai đoạn 2011 - 2020. Quỹ đất của quốc gia cơ bản được giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân quản lý sử dụng một cách hiệu quả. Diện tích đất trống đồi núi trọc dần được phủ xanh.

Nguồn thu từ đất tăng đều qua các năm (năm 2005 đạt 17.949 tỷ đồng; năm 2006 đạt 20.765 tỷ đồng; năm 2007 đạt 36.821 tỷ đồng; năm 2008 đạt 40.029 tỷ đồng; năm 2009 đạt 46.876 tỷ đồng; năm 2010 đạt 54.000 tỷ) dần trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nhờ đó, nhiều công trình hạ tầng quốc gia được đầu tư xây dựng; trong thời gian ngắn các địa phương đã huy động được nguồn vốn đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng; phát triển, chỉnh trang đô thị. Hiện nay, với chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa ngành Tài nguyên và Môi trường, nguồn lực đất đai đang và sẽ là một trong những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong quản lý đất đai được thực hiện hiệu quả làm căn cứ khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Hợp tác quốc tế trọng lĩnh vực quản lý đất đai ngày càng rộng mở. Hiện nay, ngành Quản lý đất đai đã có quan hệ hợp tác với trên 30 quốc gia và tổ chức quốc tế; với nhiều chương trình, dự án quan trọng.

Nhìn lại chặng đường 66 năm lịch sử phát triển của ngành cũng chính là dịp để giáo dục truyền thống cho thế hệ cán bộ làm công tác quản lý đất đai ngày nay. Những thành quả mà Ngành đã đạt được là sự nỗ lực phấn đấu, sự hy sinh gian khổ của rất nhiều thế hệ cán bộ, người lao động đã từng nhiều năm đồng cam cộng khổ trên mỗi bước đường xây dựng và phát triển của Ngành. Nhân dịp này, chúng ta ghi nhận và tôn vinh công lao, đóng góp to lớn của các thế hệ cha, anh, những cống hiến quý báu của các thế hệ trước đây sẽ mãi mãi được ghi nhớ. Thế hệ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động ngành Quản lý đất đai hôm nay sẽ ra sức phấn đấu, không ngừng học tập, sáng tạo xây dựng Ngành ngày một phát triển và vững mạnh, đóng góp to lớn hơn nữa cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Quản lý đất đai là vấn đề hệ trọng, mang tính tổng hợp cả về kinh tế và chính trị - xã hội, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta rất quan tâm. Giải quyết đúng đắn chính sách đất đai sẽ tạo thêm động lực, góp phần quan trọng để đạt được những thành tựu to lớn của sự nghiệp cách mạng nước ta. Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngành Quản lý đất đai sẽ phát huy trí tuệ tập thể nắm bắt cơ hội, hóa giải thách thức, để cùng các cấp, các ngành thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa trong thời gian tới, toàn thể cán bộ công chức, viên chức và người lao động ngành Quản lý đất đai nguyện đoàn kết, phát huy trí tuệ tập thể, nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Một là, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đất đai phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo môi trường pháp lý thuận lợi để Nhà nước "nắm chắc, quản chặt" quỹ đất đai, đồng thời phân bổ nguồn tài nguyên đất đai cho các ngành kinh tế, xã hội, đảm bảo mục tiêu của quốc phòng, an ninh. Mặt khác phải tạo điều kiện để đất đai tham gia thị trường bất động sản.

- Hai là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống dữ liệu đất đai, đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước về đất đai trên tất cả các lĩnh vực. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai thành một bộ phận của hệ thống Dữ liệu Quốc gia. Xây dựng hoàn thiện hệ thống đăng ký đất đai hiện đại về các mặt mô hình tổ chức, trình tự thủ tục, phương pháp công nghệ.

- Ba là, hoàn thiện hệ thống quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.

- Bốn là, hoàn thiện hệ thống cơ chế tài chính về đất đai thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực quản lý đất đai với các yêu cầu cụ thể như : Hệ thống định giá đất trở thành công cụ tài chính điều tiết các quan hệ đất đai và quản lý thị trường bất động sản; xây dựng hệ thống phát triển quỹ đất bảo đảm phát triển và quản lý quỹ đất một cách chặt chẽ, hợp lý, hiệu quả đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội.

- Năm là, kiện toàn hệ thống bộ máy tổ chức, nâng cao năng lực cho ngành Quản lý đất đai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo chức năng thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai trên phạm vi cả nước, có sự phân công, phân cấp rõ ràng, hoạt động có hiệu quả. Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ ngang tầm trình độ tiên tiến của các nước trong khu vực.

                                                                                                         Vũ Đình Trung

 
Các tin khác


Tìm kiếm
Đăng nhập





Bạn quên mật khẩu?
Tạo một tài khoản
Liên kết web
Bộ tài nguyên và môi trường Viện Nghiên Cứu Địa Chính
Cục Đo Đạc và Bản Đồ Cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam
Cục Quản Lý Tài Nguyên Nước Hội Bảo vệ Thiên Nhiên và Môi Trường